Chấn thương sọ não (CTSN) gây tổn thương giải phẫu nhu mô não, gây ảnh hưởng tạm thời hoặc vĩnh viễn chức năng của bộ não. Chẩn đoán lâm sàng thường chỉ là nghi ngờ và cần phải xác định bằng chẩn đoán hình ảnh (chủ yếu là CT). Điều trị ban đầu bao gồm đảm bảo đường thở thông thoáng và duy trì thông khí, cung cấp oxy đầy đủ và duy trì huyết áp. Những bệnh nhân có tổn thương nặng thường cần phải được phẫu thuật để đặt monitor theo dõi và điều trị tăng áp lực nội sọ, giải tỏa não nếu áp lực nội sọ tăng, hoặc lấy bỏ khối máu tụ nội sọ. Trong vài ngày đầu sau chấn thương, duy trì tưới máu não và cung cấp oxy đầy đủ, phòng ngừa các biến chứng của thay đổi nhận thức là điều quan trọng. Sau đó, nhiều bệnh nhân cần được phục hồi chức năng.

Bạn đang xem: Chấn thương sọ não là gì


Tai nạn xe máy và các nguyên nhân liên quan đến giao thông khác (ví dụ: tai nạn khi đi xe đạp, va chạm với người đi bộ)


Những ảnh hưởng về mặt cấu trúc trong chấn thương vùng đầu có thể mang tính đại thể hoặc vi thể, tùy thuộc vào cơ chế và lực tác động. Bệnh nhân có chấn thương ít nguy hiểm có thể không gặp những tổn thương cấu trúc đại thể. Mức độ nặng và hậu quả trên lâm sàng rất đa dạng. Chấn thương thường được phân loại là kín hoặc hở.


Vết thương sọ não là tổn thương xuyên qua da đầu và xương sọ (và thường cả màng não và nhu mô não phía dưới). Chúng thường liên quan đến các tổn thương do đạn bắn hoặc vật sắc nhọn, nhưng vỡ xương sọ kèm rách da đầu do một lực tác động lớn cũng được xem là một tổn thương hở.


CTSN kín thường xảy ra khi đầu bị va chạm, đập vào vật khác, hoặc bị rung lắc mạnh, gây tăng và giảm tốc độ di chuyển của não đột ngột. Tăng và giảm tốc độ có thể gây tổn tương nhu mô ở vị trí va chạm (điểm va đập), ở vị trí đối diện (điểm đối diện) hoặc lan tỏa; thùy trán và thùy thái dương là những vị trí đặc biệt dễ bị tổn thương của loại chấn thương này. Sợi trục, mạch máu hoặc cả 2 có thể bị đứt hoặc xé, gây tổn thương sợi trục lan tỏa. Chảy máu từng đợt gây tụ máu, chảy máu trong não hoặc dưới nhện, và tụ máu ngoài màng cứng hoặc dưới màng cứng xem bảng các chấn thương thường gặp Các loại thương tổn não thường gặp

*
.


*

Chấn động Chấn động liên quan đến thể thao Các hoạt động thể thao là nguyên nhân phổ biến gây chấn thương, một dạng CTSN nhẹ. Triệu chứng bao gồm mất ý thức, nhầm lẫn, suy giảm khả năng nhớ, và các dấu hiệu khác do suy giảm chức năng... đọc thêm được định nghĩa là sự thay đổi ý thức thoáng qua có thể hồi phục được (ví dụ như mất ý thức hoặc mất trí nhớ, lú lẫn) kéo dài từ vài giây đến vài phút, và theo một định nghĩa chưa được khẳng định, < 6 giờ.


Tổn thương cấu trúc não đại thể và rối loạn thần kinh nghiêm trọng không phải một phần của chấn động não, mặc dù những rối loạn tạm thời có thể là kết quả của các triệu chứng (như buồn nôn, đau đầu, chóng mặt, rối loạn trí nhớ, và khó tập trung ), thường phục hồi sau vài tuần. Tuy nhiên, người ta cho rằng nhiều chấn động có thể dẫn đến bệnh lý não mạn tính do chấn thương Bệnh não do chấn thương mạn tính (CTE) Bệnh não do chấn thương mạn tính (CTE) là bệnh lý thoái hóa não tiến triển, có thể xảy ra sau chấn thương đầu tái diễn hoặc r b các tổn thương do sóng nổ. ( Tổng quan về sảng và sa sút trí tuệ)... đọc thêm , dẫn đến rối loạn chức năng của não nghiêm trọng.


Máu tụ trong não (bầm tụ máu của não) có thể xảy ra với tổn thương sọ não hở hoặc kín và ảnh hưởng đến nhiều chức năng của não, phụ thuộc vào kích cỡ và vị trí của khối máu tụ. Máu tụ lớn có thể gây phù não và tăng áp lực nội sọ (TALNS). Máu tụ có thể tăng dần trong vài giờ hoặc vài ngày sau chấn thương ban đầu và gây ra rối loạn thần kinh; cần phải can thiệp phẫu thuật.


Tổn thương sợi trục lan tỏa (DAI) xảy ra khi quá trình giảm tốc độ quay tạo ra các lực xé gây tổn thương sợi trục và vỏ bao myelin toàn bộ, lan tỏa. Một số trường hợp tổn thương DAI do chấn thương nhẹ ở vùng đầu. Tổn thương cấu trúc đại thể không phải là một phần của DAI, nhưng có thể thấy điểm xuất huyết nhỏ ở chất trắng trên CT và trên mô bệnh học.


DAI đôi khi được định nghĩa trên lâm sàng như là một tình trạng mất ý thức kéo dài > 6h mà không có tổn thương khu trú cụ thể.


Phù não do chấn thương thường làm tăng ALNS, dẫn đến nhiều biểu hiện Sinh lý bệnh Chấn thương sọ não (CTSN) gây tổn thương giải phẫu nhu mô não, gây ảnh hưởng tạm thời hoặc vĩnh viễn chức năng của bộ não. Chẩn đoán lâm sàng thường chỉ là nghi ngờ và cần phải xác định bằng... đọc thêm khác nhau.


Máu tụ (máu ứ đọng ở trong hoặc quanh não) có thể gặp trong chấn thương sọ não kín hoặc hở và có xuất hiện ở ngoài màng cứng, dưới màng cứng hoặc trong nhu mô. Xuất huyết dưới nhện Chảy máu dưới nhện (SAH) Chảy máu dưới nhện là chảy máu đột ngột vào khoang dưới nhện. Nguyên nhân phổ biến nhất của chảy máu tự phát là vỡ phình động mạch. Các triệu chứng bao gồm đau đầu nặng đột ngột, thường kèm... đọc thêm

*
(SAH — chảy máu vào khoang dưới nhện) thường gặp trong chấn thương sọ não (TBI), mặc dù sự xuất hiện trên CT thường không giống như SAH phình động mạch.


Máu tụ dưới màng cứng gây máu tụ giữa màng cứng và màng nhện. Máu tụ dưới màng cứng cấp tính do vỡ tĩnh mạch vỏ não hoặc tĩnh mạch cầu nối giữa vỏ não và xoang màng cứng.


Sự đè ép của khối máu tụ lên não và phù não hoặc tăng tưới máu não (tăng lưu lượng máu do các mạch máu bị giãn) có thể làm tăng ALNS. Khi xuất hiện cả 2 tình trạng đè ép và phù não, nguy cơ tử vong và mắc bệnh có thể cao hơn.


Máu tụ dưới màng cứng mạn tính có thể xuất hiện với các triệu chứng tăng dần trong vài tuần sau khi chấn thương. Máu tụ dưới màng cứng mạn tính thường hay gặp ở người nghiện rượu và người cao tuổi (đặc biệt ở những bệnh nhân dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông hoặc những người bị teo não). Bệnh nhân cao tuổi có thể coi chấn thương vùng đầu là không quan trọng hoặc thậm chí có thể quên sự kiện đó. Trái ngược với máu tụ dưới màng cứng cấp tính, phù não và TALNS ít gặp.


Máu tụ ngoài màng cứng gây máu tụ giữa xương sọ và màng cứng và ít gặp hơn máu tụ dưới màng cứng. Máu tụ ngoài màng cứng thường to hoặc tiến triển nhanh thường do chảy máu động mạch, điển hình là do tổn thương động mạch màng não giữa do vỡ xương thái dương. Nếu không can thiệp, bệnh nhân có máu tụ ngoài màng cứng do tổn thương động mạch có thể nhanh chóng diễn biến xấu đi và tử vong. Máu tụ ngoài màng cứng nhỏ, do tổn thương tĩnh mạch hiếm khi gây chết người.


Máu tụ trong não là tổn thương do máu tụ ở trong nhu mô não. Trong hoàn cảnh chấn thương, máu tụ là do sự hợp nhất của nhiều vụng tụ máu. Việc xác định chính xác khi nào một hoặc nhiều vùng tụ máu gây ra máu tụ vẫn chưa được khẳng định. TALNS, thoát vị Thoát vị não Thoát vị não xảy ra khi tăng áp lực nội sọ gây ra sự lồi ra bất thường của mô não thông qua các khe hở trong các rào cản nội sọ cứng (ví dụ, rãnh lều tiểu não). Hộp sọ sau giai đoạn ấu thơ sẽ... đọc thêm

*
, và suy giảm chức năng thân não có thể phát triển sau đó, đặc biệt là với tổn thương ở thùy thái dương.


Vết thương sọ não về mặt định nghĩa bao gồm cả vỡ xương. CTSN kín có thể gây vỡ xương, có thể có dạng nứt dọc, đè ép hoặc vỡ vụn. Dấu hiệu nứt vỡ sọ gợi ý rằng đã có một lực tác động lớn gây ra chấn thương.


Hầu hết các bệnh nhân có đường gãy đơn giản và không có rối loạn thần kinh đều không phải là CTSN nguy cơ cao, nhưng bệnh nhân có đường vỡ kèm theo rối loạn thần kinh sẽ có nguy cơ bị máu tụ nội sọ.


Vỡ xương đè ép: Loại này có nguy cơ gây rách màng cứng cao nhất, gây tổn thương nhu mô não phía dưới, hoặc cả hai.


Vỡ xương thái dương đi qua vùng của động mạch màng não giữa: Loại này gây tăng nguy cơ máu tụ ngoài màng cứng.


Vỡ xương đi qua một trong những xoang màng cứng chính: Loại này có thể gây máu tụ lớn và máu tụ ngoài màng cứng do chảy máu TM hoặc máu tụ dưới màng cứng do chảy máu TM. Các xoang tĩnh mạch bị tổn thương có thể tạo thành huyết khối sau đó và gây nhồi máu não.


Các đường vỡ ở xương chẩm và nền sọ (xương nền sọ): Những xương này dày và chắc khoẻ, do đó các đường vỡ ở những vùng này cho thấy lực tác động có cường độ cao và tăng nguy cơ gây tổn thương não. Vỡ xương nền sọ lan đến phần đá của xương thái dương thường gây tổn thương cấu trúc tai giữa và tai trong và có thể làm giảm chức năng thần kinh mặt, âm thanh và tiền đình.


Vỡ xương ở trẻ sơ sinh: Màng não có thể bị kẹt trong đường vỡ xương dọc, từ đó tạo ra nang ở màng cứng và màng mềm và làm đường vỡ lớn hơn (vỡ xương tiến triển).


Chức năng não có thể bị suy giảm ngay tức thì do những tổn thương trực tiếp (ví dụ, va đập, xé rách) nhu mô não. Những tổn thương tiếp theo có thể xảy ra sớm sau đó do tiến triển của chấn thương ban đầu.


Bất kì dạng CTSN nào cũng có thể gây phù não và giảm tưới máu não. Hộp sọ có kích thước cố định (tạo bởi xương sọ) và được lấp đầy bởi dịch não tủy không bị đè ép và nhu mô não có thể bị đè ép tối thiểu; vì vậy, bất kì tình trạng phù não hoặc máu tụ nội sọ nào sẽ không có chỗ để thoát ra và gây tăng áp lực nội sọ. Lưu lượng máu não là áp lực tưới máu não (CPP), được tính bằng sự chênh lệch giữa áp lực động mạch trung bình (MAP) và ALNS trung bình. Do đó, khi ALNS tăng (hoặc MAP giảm), CPP sẽ giảm. Khi CPP giảm xuống dưới 50 mm Hg có thể gây thiếu máu não cục bộ. Thiếu máu não cục bộ và phù não có thể gây các tổn thương thứ phát (ví dụ, giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh kích thích, canxi nội bào, các gốc tự do và cytokine), làm tăng tình trạng tổn thương tế bào, phù não và tăng ALNS. Các biến chứng hệ thống do chấn thương (ví dụ, hạ huyết áp, thiếu oxy huyết) cũng có thể góp phần gây thiếu máu não và thường được gọi là tổn thương nhu mô não thứ phát.


ALNS quá cao ban đầu sẽ gây rối loạn chức năng não toàn bộ. Nếu tình trạng tăng ALNS không thuyên giảm, nó có thể đẩy nhu mô não xuống hố sau hoặc qua liềm đại não, gây ra thoát vị Thoát vị não Thoát vị não xảy ra khi tăng áp lực nội sọ gây ra sự lồi ra bất thường của mô não thông qua các khe hở trong các rào cản nội sọ cứng (ví dụ, rãnh lều tiểu não). Hộp sọ sau giai đoạn ấu thơ sẽ... đọc thêm

*
(và tăng tỉ lệ mắc bệnh và tử vong). Nếu ALNS tăng lên bằng MAP, CPP sẽ bằng 0, dẫn đến thiếu máu não toàn bộ và chết não Chết não Chết não là mất chức năng toàn bộ bán cầu não và thân não, dẫn đến tình trạng hôn mê, không tự thở được và mất toàn bộ phản xạ của thân não. Các phản xạ tủy sống, bao gồm phản xạ gân xương,... đọc thêm ; mất máu nuôi dưỡng lên não là một bằng chứng khách quan của chết não.


Tăng lượng máu đến và tăng lưu lượng máu não có thể là kết quả của tình trạng chấn động não ở thanh thiếu niên hoặc trẻ em.


Hội chứng tác động thứ phát là một rối loạn thực thể hiếm gặp và gây tranh cãi, được xác định bởi tăng ALNS đột ngột và đôi khi gây tử vong sau một chấn thương thứ phát kéo dài trước khi BN hồi phục hoàn toàn sau một chấn thương vùng đầu mức độ nhẹ trước đó. Tình trạng này được cho là do mất cơ chế tự điều hòa của lưu lượng máu não gây ra giãn mạch, TALNS và thoát vị.

Xem thêm: Cây Thuốc Nam Chữa Sỏi Thận, Mẹo Chữa Bệnh Sỏi Thận Từ Cây Cỏ Tự Nhiên


Ban đầu, hầu hết các bệnh nhân CTSN mức độ trung bình hoặc nặng đều bị mất ý thức (thường là vài giây hoặc vài phút), mặc dù một vài bệnh nhân bị thương nhẹ chỉ lú lẫn hoặc quên (chứng quên thường sẽ phục hồi và gây mất trí nhớ trong vài giây đến vài giờ trước khi bị thương). Trẻ nhỏ có thể trở nên cáu kỉnh. Một số bệnh nhân bị co giật, thường là trong giờ đầu hoặc ngày đầu tiên. Sau những triệu chứng ban đầu này, bệnh nhân có thể tỉnh hoàn toàn, hoặc có thể thay đổi ý thức và chức năng ở một mức độ nào đó, từ lú lẫn nhẹ đến mê man đến hôn mê Tổng quan về hôn mê và suy giảm ý thức Hôn mê là tình trạng không đáp ứng, từ đó bệnh nhân không thể tỉnh dậy và nhắm mắt lại. Suy giảm ý thức là tình trạng ít nghiêm trọng hơn và không được coi là hôn mê. Cơ chế của hôn mê hoặc... đọc thêm

*
. Thời gian bất tỉnh và mức độ nặng của tình trạng suy giảm nhận thức thường tương ứng với mức độ nặng của chấn thương nhưng không đặc hiệu.


Các Bảng điểm Glasgow (GCS - xem bảng Thang điểm Hôn mê Glasgow Bảng điểm Glasgow*

*
) là một hệ thống tính điểm nhanh, có khả năng lặp lại được sử dụng trong lần khám ban đầu để đánh giá mức độ nặng của CTSN. Nó dựa trên dấu hiệu mở mắt, lời nói, và đáp ứng vận động tốt nhất. Điểm tổng thấp nhất (3) thể hiện tổn thương nguy hiểm đến tính mạng, đặc biệt là nếu cả 2 đồng tử mất phản xạ ánh sáng và mất phản xạ tiền đình mắt. Điểm Glasgow ban đầu cao dự đoán khả năng phục hồi tốt hơn. Theo quy ước, mức độ nghiêm trọng của CTSN được xác định ban đầu theo bảng điểm Glasgow như sau: